• Trang Chủ » Luật dân sự » Điều kiện tuyên bố một cá nhân chết theo quy định pháp luật dân sự
    29 Tháng Mười Hai, 2016
    Share Button

    Điều kiện tuyên bố một cá nhân chết theo quy định pháp luật dân sự

    Luật Tiền Phong – Việc một người sống, mất tích hay đã chết có ảnh hưởng quan trọng đến các giao dịch dân sự, các quan hệ pháp luật với nhiều người khác. Vậy trong trường hợp một người không rõ thông tin trong thời gian dài, không biết còn sống hay đã chết thì có thể tuyên bố chết được hay không, có thể tuyên với điều kiện nào?

    1.  Các trường hợp tuyên bố chết

    Theo quy định tại Điều 71 Bộ luật dân sự 2015, người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:

    –  Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống. Trong trường hợp này, việc tạm dừng năng lực chủ thể của cá nhân sẽ được giải quyết theo hướng chấm dứt tư cách chủ thể của người đó. Lúc này Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người đó đã chết mà không cần đòi hỏi thêm thủ tục thông báo nào cả.

    –   Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống.

    Ngày chiến tranh kết thúc có thể có nhiều quy định khác nhau như ngày chiến thắng, ngày tuyên bố chấm dứt chiến tranh, ngày ký hiệp định đình chiến, hiệp định hòa bình hoặc ngày tuyên bố chấm dứt tình trạng chiến tránh… Tùy theo hoàn cảnh của các cuộc chiến tranh mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ quyết định. 

    Điều kiện tuyên bố một cá nhân chết theo quy định pháp luật dân sự

    Điều kiện tuyên bố một cá nhân chết theo quy định pháp luật dân sự

    –   Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Các tai nạn, thảm họa có thể là động đất, núi lửa, sóng thần; hành khách trong các tai nạn giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không; người trong hầm, lò, mỏ bị sập hoặc hư hỏng.

    –   Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó, nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng, nếu không xác định được ngày tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

    2.  Hậu quả pháp lý của quyết định tuyên bố một người đã chết

    Theo khoản 1 Điều 72 BLDS năm 2015: “Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết”. Khi một người bị tuyên bố là đã chết thì quan hệ về hôn nhân gia đình của người đó đối với vợ, chồng đương nhiên chấm dứt. Các quan hệ nhân thân cũng sẽ chấm dứt khi người đó bị tuyên bố là đã chết. Và người đó sẽ được khai tử theo trình tự và thủ tục của pháp luật. Nếu người bị tuyên bố chết trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 thì hướng giải quyết đối với tư cách chủ thể của người đó là từ tạm dừng thành chấm dứt hoàn toàn tư cách chủ thể. Tuy nhiên quyền nhân thân của người bị tuyên bố chết không hoàn toàn chấm dứt, người bị tuyên bố chết vẫn sẽ được bảo vệ về quyền nhân thân theo quy định của pháp luật.

    Khoản 2 Điều 72 BLDS năm 2015 quy định: “Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế”. Tài sản của người bị tuyên bố chết sẽ được sử dụng trước tiên để thanh toán chi phí quản lý với người được giao quản lý tài sản của người đó. Sau đó sẽ được đưa ra thành di sản để chia thừa kế.

    Văn phòng Luật sư Tiền Phong đặt tại Hà Đông, Hà Nội chuyên tư vấn pháp luật và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ pháp lý. Hãy liên hệ với chúng tôi để gỡ bỏ những khó khăn, vướng mắc cũng như để hiểu hơn về các quy định pháp luật. Mọi thông tin vui lòng gọi 1900 6289.

    Bình luận

    bình luận

    Share Button

    Thẻ bài viết: