Thời hạn thông báo chấm dứt hợp đồng lao động?

Luật Tiền Phong – Quan hệ lao động là quan hệ giữa hai bên người lao động và người sử dụng lao động. Chính vì vậy, mọi sự kiện hay các vấn đề liên quan đều phải đảm bảo cho quyền lợi của cả 2 bên. Do đó, khi người lao động muốn chấm dứt hợp đồng lao động thì phải báo trước cho người sử dụng lao động biết. Pháp luật quy định ra sao về thời hạn thông báo này?

Thời hạn thông báo chấm dứt hợp đồng lao động
Thời hạn thông báo chấm dứt hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động là văn bản thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, trong đó quy định điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động.
Việc đảm bảo về quyền lợi cho cả 2 bên trong quan hệ lao động là điều cần được chú trọng và là nguyên tắc ưu tiên hàng đầu để xây dựng các quy định liên quan. Do đó, khi một bên muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng thì cũng phải tuân thủ nguyên tắc thông báo cho bên kia trong một khoảng thời gian nhất định.
Thời hạn thông báo chấm dứt hợp đồng lao động được quy định tại Điều 37, 38 Bộ luật lao động 2012, theo đó:

1.  Đối với người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn

Trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn thì phải thông báo trước cho người lao động biết:
– Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
– Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;
– Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp người lao động hết thời gian nghỉ ốm đau tai nạn mà vẫn chưa hồi phục khả năng lao động và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

2.  Đối với người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn

Trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn thì phải thông báo cho người sử dụng lao động biết trước:
– Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp chấm dứt hợp đồng vì những lý do sau:
+ Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
+ Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
+ Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;
+ Người lao động bị ốm đau, tai nạn mà khả năng lao động chưa được hồi phục.
– Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp chấm dứt hợp đồng trước thời hạn vì:
+ Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;
+ Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước.
– Đối với trường hợp lao động nữ nghỉ việc vì mang thai thì thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện tuỳ thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.
– Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp lao động nữ mang thai phải nghỉ việc.
Như vậy, với các trường hợp khác nhau luật định thời hạn thông báo là khác nhau dựa trên sự phù hợp với tính chất và điều kiện thực tế của từng trường hợp. Để bảo vệ cho quyền và nghĩa vụ của mình, người sử dụng lao động cũng như người lao động cần nắm được quy định này để thực hiện đúng, tranh sự sai phạm dẫn đến những hậu quả không hay xảy ra.
Trên đây là phần tư vấn của Luật Tiền Phong về vấn đề thời hạn thông báo chấm dứt hợp đồng. Nếu có bất kì vướng mắc hay nhu cầu cần được tư vấn, hỗ trợ hãy liên hệ với chúng tôi qua tổng đài 1900 6289.
Trân trọng!

Comments

comments

Viết một bình luận

error: Content is protected !!